Liệu công nghệ phim 3D có phải một mánh lới quảng cáo kiếm tiền hay chỉ là một sáng chế cách tân?  Một vài bộ phim sử dụng công nghệ này để tạo những cảnh quay thần kì hơn nhưng số khác lại có được rất ít tác dụng với công nghệ này, thâm chí còn khiến bộ phim tồi tệ hơn. Hãy xem hướng dẫn làm phim 3D dưới đây và cùng đoán biết tương lai của ngành nghệ thuật này!

 

Một vài ví dụ xuất sắc của công nghệ 3D trong phim là gì và điều gì khiến chúng trở nên tuyệt vời như vậy?

Gần đây, bộ phim “Edge of Tomorrow” đã thành công xuất sắc với công nghệ 3D. Máy quay đặt trong các chuỗi hành động và một sự tập trung cao độ trong cảnh “trước cửa sổ” (cảnh quay bất chợt xuất hiện trước máy quay và được đưa vào phim) đã khiến người xem như chìm vào trong bộ phim. Và với tôi, nó chính là mấu chốt của 3D. Nó nên được sử dụng như một công cụ thâm nhập, một thiết bị dễ quan sát nhằm giúp bạn cảm thấy như mình là một phần trong câu chuyện đó. Khi xem “Trọng lực” của Alfonso Cuaron, chúng ta cảm thấy như thể ta đang ở ngoài không gian. Đó là lý do vì sao phim “Avatar” của James Cameron vẫn giữ vững vị trí là nhân chứng tuyệt vời nhất về điều mà công nghệ 3D có thể làm. Khán giả có cảm giác như họ cũng đến thăm vùng đất Pandora trong từng cảnh quay vì việc sử dụng công nghệ 3D đã đưa chúng ta vào bên trong bộ phim.

Ngoài ra, công nghệ 3D còn làm tốt các mảng trong phim hoạt hình. Đó là lý do khiến bộ phim “Huấn luyện rồng 2” và “Bộ phim LEGO” trở nên thú vị.

Một vài ví dụ tồi tệ nhất của công nghệ 3D trong phim ảnh và điều gì khiến chúng trở nên tệ hại vậy

Công cụ 3D đang được cải tiến từng ngày. Vậy nên để lấy ví dụ về phần này, hãy cùng quay trở lại một vài năm trước. Sau “Avatar”, các hãng phim thi nhau làm mọi thứ bằng công nghệ 3D, chỉ vì muốn tăng giá vé xem phim. Công nghệ 3D chuyển đổi đã hủy hoại một vài bộ phim như “Sự phẫn nộ của người khổng lồ” hay phim “Alice ở xứ sở thần kì” của hãng Disney và một vài bộ phim kinh dị muốn có được mánh lới quảng cáo mà không đầu tư hết sức vào.

Công nghệ 3D trong các bộ phim này trở nên phản tác dụng vì hai lý do chính. Khi bạn có ý định sử dụng công nghệ 3D, bạn phải có hoạch quay hình khác hoàn toàn. Thêm yếu tố 3D vào những tư liệu đã sẵn là phim thường hiếm khi có tác dụng. Giống như bạn đang ép một con lơn vuông vào một cái hố tròn vậy. Những bộ phim như “Cuộc đời của Pi” hay “Hugo” đã được lên kế hoạch và định hình sẵn trong đầu để tận dụng mánh khóe của công nghệ 3D. Chúng có người kể chuyện. Còn những phim như “Cái cưa Texas 3D” thì không.

Một bất lợi khác trong việc sử dụng 3D ở những trường hợp này là sự thiếu ánh sáng trong một bộ phim 3D. Phim 3D thực sự cần ánh sáng và độ bão hòa tốt. Những bộ phim kinh dị và các phim phiêu lưu nhiều phần (như “Underworld” hay “I Frankenstein”) ngay lập tức không đạt chuẩn vì bảng màu của chúng quá tối. Chúng làm giảm hiệu quả của công nghệ 3D phía sau lớp kính bóng nhẹ. Các cảnh quay ban ngày trong “Thor: Thế giới đen tối” hay “Đội trưởng Mỹ: Chiến binh mùa đông” đã giúp các cảnh quay nổi bật. Còn cảnh ban đêm trong các bộ phim kinh dị thì thường không được nooit bật. Đó chính là vấn đề.

Cách quqy phim 3D

Một vài đạo diễn sử dụng bí quyết quay phim 3D dựa vào máy quay hình nổi, tạo hai phiên bản hình ảnh cần thiết để tạo hiệu ứng chiếu sáng Immersive trong con mắt. James Cameron, Alfonso Cuaron và Martin Scorsese. Họ đều trung thành với máy quay 3D. Nó là cách tự nhiên nhất để bắt được cảnh quay phim 3D. Nhưng cũng khó hơn vì trong ngành họ vẫn đang thử nghiệm các công cụ và giá của chúng thì khá cao.

Thật dễ nhưng cũng ít đem lại hiệu quả khi quay phim với máy quay 2D truyền thống và thêm hiệu ứng 3D sau đó, trong quá trình hoàn thành sản phẩm. Nhưng hành động “chuyển đổi” này lại mở ra cánh cửa cho các vấn đề. Tỉ lệ xem cao hơn trong một vài bộ phim (Ví dụ như gần đây là “Hobbit”) có thể tạo ra những sai lầm dễ thấy. Bất kì cảnh quay nào cũng được chuyển đổi trong bước hoàn thiện sản phẩm, những tác động nhỏ nhất cũng có thể khiến chúng trì trệ. Thao tác bằng tay các cảnh quay có thể dẫn đến các vấn đề. Vậy nên làm phim 2D rồi chuyển thành 3D phải có hiệu quả sát nhất nhưng hiệu quả ấy lại hiếm khi đạt được.

Tương lại của nghệ thuật quay phim 3D?

Bạn càng làm được nhiều thứ thì bạn sẽ càng khai thác được nó tốt hơn. Người kể chuyện nghĩ càng nhiều về công nghệ quay phim 3D thì sự tiếp cận của họ với công cụ này càng tốt hơn và sáng tạo hơn. Chúng ta có thể xem qua một vài ví dụ – như phim “Hugo” và “Trọng lực” – cơ bản tồn tại dựa trên việc tận dụng công nghệ 3D. Nó là một phần quan trọng trong quá trình kể chuyện. Nó đã có bước tiến lớn nhất. Những bộ phim sử dụng công nghệ 3D ngay từ đầu thì không dễ dàng kéo dài được đến hết phim.

Nhưng việc phải đeo kính xem phim vẫn là một trở ngại. Và vì vậy, tôi nghĩ chúng ta có thể sẽ đạt tới đỉnh điểm khi xem phim 3D mà không cần đến kính. Spielberg cũng đang hướng tới mục tiêu này. Sự phát triển của máy chiếu phim 3D sẽ không phải cần đến kính nữa. Nghe có vẻ khó tin. Nhưng rồi nó sẽ đến, sớm thôi.

Điều khó khăn nhất của công nghệ 3D trong phim ảnh là gì?

Với tôi thì đó là vấn đề về giá vé. Bởi vì công nghệ 3D cơ bản được cho vào các bộ phim hoạt hình nên dù chúng có cần 3D hay không thì nó cũng sẽ đắt hơn cho một gia đình để đến xem bộ phim mới ra mắt của Disney, Pixar hay DreamWorks. Tất nhiên, các gia đình vẫn có thể chọn phiên bản 2D của những bộ phim đó để xem. Nhưng với phim “Huấn luyện rồng 2”, nếu không xem với công nghệ 3D thì bạn sẽ bỏ lỡ những hiệu ứng thú vị trong phim. Và nó đáng để xem với gia đình 4 người.

Bạn thấy công nghệ 3D có tiềm năng lớn nhất ở đâu?

Đúng mà nói thì công nghệ 3D có thể tạo ra thế giới tưởng tượng mà khán giả sẽ muốn đến thăm đi thăm lại nhiều lần. Thành thật mà nói, tôi thích công cụ IMAX hơn. Nhưng khi được sử dụng đúng cách, bởi những người kể chuyện sáng tạo, thì công nghệ 3D có thể khiến chúng ta chìm đắm trong thế giới viễn tưởng và đó là tiềm năng cho chuỗi ngày đàn nhớ sẽ đến.

0 comment